Join with us

Thứ Ba, 1 tháng 2, 2022

Hướng đến tăng trưởng xanh với bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 14030

Hôm nay chúng tôi sẽ chia sẻ cho bạn một số vấn đề về hướng đến tăng trưởng xanh với bộ tiêu chuẩn quốc tế ISO 14030.

Hiện nay việc áp dụng tiêu chuẩn xanh là một trong những vấn đề về tài chính giúp bạn hướng đến sự tăng trưởng xanh thông qua việc cắt giảm lượng khí thải có phát sinh làm ô nhiễm môi trường một cách có ý nghĩa. Hiện nay để đạt được mục đích đó cần phải có hàng nghìn tỷ đô la. để tránh nguy cơ làm chậm tăng trưởng và khuyến khích sự phát triển, ISO đã ban hành một bộ tiêu chuẩn mới về tài chính xanh.

Bộ tiêu chuẩn ISO 14030, Đánh giá hiệu suất môi trường – Chứng khoán nợ xanh, là một lộ trình được quốc tế công nhận về phát hành trái phiếu xanh và cấp tín dụng xanh. Các tiêu chuẩn mới mô tả những nguyên tắc, tiêu chí và hướng dẫn để có thể đủ điều kiện là trái phiếu và tín dụng “xanh” nhằm tài trợ cho các dự án hoạt động đủ điều kiện, đảm bảo việc giám sát và đánh giá tác động môi trường.

Bộ tiêu chuẩn gồm bốn phần, những tiêu chuẩn này sẽ phân loại các tài sản, dự án đủ điều kiện cho tài chính xanh, xác định quy trình tạo trái phiếu và tín dụng xanh, đồng thời đảm bảo rằng quy trình phát hành phù hợp với tiêu chí sẽ mang lại lợi ích môi trường như mong đợi.

Theo Tiến sĩ John C. Shideler, Chủ tịch nhóm chuyên gia xây dựng tiêu chuẩn, bộ tiêu chuẩn ISO 14030 sẽ nâng cao uy tín và hài hòa các thông lệ tốt trong ngành tài chính xanh, từ đó thúc đẩy thị trường. “Việc sử dụng các tiêu chuẩn này nhằm mục đích loại bỏ sự nhầm lẫn, cải thiện niềm tin vào thị trường. Nó không chỉ dẫn đến tăng đầu tư và cải thiện niềm tin của nhà đầu tư, mà còn tăng lợi ích môi trường”, ông John giải thích.

Loạt bài này bao gồm các tiêu chuẩn sau: ISO 14030-1, Đánh giá hoạt động môi trường – Chứng khoán nợ xanh – Phần 1: Quy trình cho trái phiếu xanh; ISO 14030-2, Đánh giá hoạt động môi trường – Chứng khoán nợ xanh – Phần 2: Quy trình cho các khoản vay xanh; ISO 14030-3, Đánh giá hoạt động môi trường – Chứng khoán nợ xanh – Phần 3: Phân loại (đang được phát triển); ISO 14030-4, Đánh giá hoạt động môi trường – Chứng khoán nợ xanh – Phần 4: Yêu cầu đối với chương trình xác minh.

Bộ tiêu chuẩn được xây dựng bởi tiểu ban SC 4, Đánh giá hoạt động môi trường, thuộc ban kỹ thuật ISO /TC 207, Quản lý môi trường. Ban thư ký của ISO /TC 207 /SC 4 được cung cấp bởi ANSI, thành viên ISO tại Hoa Kỳ. Tất cả các tiêu chuẩn đều có sẵn từ thành viên ISO ở quốc gia của bạn hoặc từ ISO Store.

VIETPAT chuyên tư vấn và chứng nhận các loại ISO nếu quý khách có nhu cầu hay thắc mắc xin vui lòng liên hệ ngay cho chúng tôi để được tư vấn hỗ trợ nhanh nhất nhé!

Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2022

Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn ngành nông nghiệp: Thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu

Bộ NN&PTNT đặt mục tiêu hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phục vụ quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm, quản lý đầu tư xây dựng chuyên ngành; hài hòa hóa tiêu chuẩn khu vực, quốc tế để thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu.

Trong kế hoạch hành động để thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP, Bộ NN&PTNT đã có những giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; tạo nền tảng phát triển nông nghiệp số. Trong đó, có các giải pháp về khoa học công nghệ và tiêu chuẩn đo lường chất lượng.


Cụ thể, ngành NN&PTNT sẽ đẩy mạnh triển khai Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2030, phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021-2025. Thực hiện Chương trình phát triển nghiên cứu, sản xuất giống phục vụ cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021-2030, ưu tiên sản xuất giống chất lượng cao;

Đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi số, phát triển kinh tế số trong nông nghiệp, nông thôn. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ, nhất là công nghệ cao theo hướng chú trọng nông nghiệp thông minh, nông nghiệp chính xác, tăng tỉ trọng của nông nghiệp công nghệ số trong nền kinh tế.

Thực hiện các giải pháp để tận dụng tối đa cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, đặc biệt là các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, công nghệ sinh học...;

Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và khuyến nông, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ phù hợp với cơ chế thị trường; khuyến khích đầu tư, phát triển các khu, vùng, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; thúc đẩy thương mại hóa và nhanh chóng đưa kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào ứng dụng trong thực tế. Triển khai các chiến lược phát triển ngành hàng theo hướng tích hợp đa giá trị, tăng hàm lượng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; coi đây là động lực đột phá đẩy nhanh chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia phục vụ quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm, quản lý đầu tư xây dựng chuyên ngành; hài hòa hóa tiêu chuẩn khu vực, quốc tế để thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu.

Theo Vụ Kế hoạch (Bộ NN&PTNT), hiện Bộ cũng đang có kế hoạch đẩy mạnh xây dựng chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn, nhất là cho các đô thị lớn; tổ chức sản xuất theo hướng tập trung bảo đảm an toàn thực phẩm, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; tăng cường sử dụng vật tư nông nghiệp theo hướng hữu cơ. Thực hiện tốt các chương trình phối hợp, vận động sản xuất kinh doanh nông sản an toàn, giám sát bảo đảm an toàn thực phẩm, trọng điểm là các hộ sản xuất nhỏ lẻ, mô hình “Mỗi xã một sản phẩm”. Chủ động xử lý các sự cố mất an toàn thực phẩm. Xử lý rào cản kỹ thuật về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm duy trì và mở rộng xuất khẩu sản phẩm nông lâm thủy sản Việt Nam sang các nước.

Bộ NN&PTNT cũng sẽ tiếp tục phối hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động của Tham tán thương mại, Tham tán nông nghiệp Việt Nam tại nước ngoài hỗ trợ các địa phương, doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường trọng điểm Mỹ, EU, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản… cùng việc đẩy nhanh tiến độ đàm phán mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước EU theo Hiệp định EVFTA và các nước theo Hiệp định Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á-Âu (VN-EAEU FTA), chú ý thị trường Nga và thị trường tiềm năng khác...

Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2021

Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi giúp doanh nghiệp phát triển

Do ảnh hưởng của đại dịch mà hiện nay để vực dậy nền kinh tế cần phải đưa ra các gói hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sau đại dịch. 

Đại dịch Covid-19 đã tác động nặng nề đến nền kinh tế, khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Các chuyên gia cho rằng, để vực dậy nền kinh tế, vấn đề lớn nhất là phải nhanh chóng đưa ra các gói hỗ trợ để giúp các doanh nghiệp phục hồi.

Theo TS Nguyễn Tú Anh, Vụ trưởng Vụ Kinh tế tổng hợp, Ban Kinh tế Trung ương, gói hỗ trợ nên đi theo hướng quan trọng, chủ đạo là phổ quát, tức làm sao giảm chi phí đồng đều cho mọi doanh nghiệp, cho tất cả cùng được hưởng lợi. Như vậy sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho cả nền kinh tế cùng phát triển.

Tạo môi trường kinh doanh thuận lợi giúp doanh nghiệp phát triển. Ảnh minh họa. 

Cụ thể, trong hỗ trợ phổ quát, các chính sách về tiền tệ, đầu tư công là những chính sách mang tính đột phá, đóng vai trò then chốt, để làm sao giảm được chi phí cho doanh nghiệp, tăng khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp trong giai đoạn phục hồi và bứt phá. Ví dụ như dệt may chiếm lĩnh thị trường rất lớn, nếu có các chính sách hỗ trợ để tăng nhanh và tiếp cận, chiếm lĩnh được thị trường thì sẽ có rất nhiều ý nghĩa đối với ngành này trong giai đoạn hiện nay.

Đồng thời, đẩy mạnh giải ngân đầu tư công là một trong những công cụ rất quan trọng để tăng nhu cầu về vốn, tăng nhu cầu việc làm và tăng vòng quay tiền tệ trong nền kinh tế. Tăng giải ngân đầu tư công còn giúp đưa nhanh các công trình đầu tư công vào hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp giá trị gia tăng của nền kinh tế sẽ tăng nhanh, đồng thời giảm chi phí logistics và các chi phí khác cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, TS Nguyễn Tú Anh cũng cho rằng, bên cạnh việc hỗ trợ đồng đều để tránh làm méo mó thị trường, trong nền kinh tế cũng có những doanh nghiệp trước đại dịch vẫn hoạt động rất tốt nhưng hiện gặp khó khăn. Vấn đề đặt ra là cần phải kết hợp vừa hỗ trợ mang tính chất phổ quát, vừa hỗ trợ mang tính chất trọng điểm giúp các doanh nghiệp vốn đã hoạt động tốt này vực dậy sản xuất kinh doanh, thay vì tiếp tục rót vốn cho các doanh nghiệp “không làm, không nỗ lực, trở nên yếu đuối” sau đại dịch.

“Khi tập trung hỗ trợ cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề, cái khó là lựa chọn như thế nào, doanh nghiệp nào cần hỗ trợ nhất? Chúng ta thấy rằng, trong quá trình vận động của nền kinh tế, có những doanh nghiệp bị đào thải ra khỏi hệ thống bởi không còn phù hợp với xu thế phát triển công nghệ mới hiện nay. Đối với những doanh nghiệp do Covid-19, hay do quá trình vận động bị đào thải thì các chuyên gia quốc tế và chúng tôi cũng thống nhất quan điểm là không nên hỗ trợ nguồn vốn mà nên hỗ trợ doanh nghiệp khác tốt hơn.

Còn đối với doanh nghiệp trước đại dịch họ hoạt động tốt, chứng tỏ họ đang trong quá trình kinh doanh tốt, vì đại dịch nên mới bị ảnh hưởng nhiều thì những doanh nghiệp này cần hỗ trợ để họ vực dậy sản xuất kinh doanh”, TS Nguyễn Tú Anh nhấn mạnh.

Thứ Bảy, 30 tháng 10, 2021

Những con số 'báo động đỏ' gây hiểm họa toàn cầu từ rác thải nhựa đại dương

Hàng năm có đến 8 triệu tấn rác thải nhựa trôi dạt  ra đại dương hòa vào vớihơn 150 triệu tấn rác thải nhựa tồn tại trước đó. Đây là một con số đáng báo động trên toàn cầu.

Những con số đáng báo động từ rác thải nhựa

Thực tế là chỉ có 9% trong số 335 triệu tấn nhựa hàng năm có thể tái chế được. Việc này đã đẩy đến sự ô nhiễm rác thải thực sự rất nghiêm trọng. Khái niệm "nhựa đổ ra đại dương" (Ocean Bound Plastic) được đưa ra bởi Tiến sĩ Jenna Jambeck, giáo sư tại Đại học Georgia, Mỹ.

Hầu như số lượng rác thải nhựa sẽ được đổ trực tiếp ra sông suối và cuối cùng lơ lửng trên các đại dương. Việc Giải quyết vấn đề "nhựa đổ ra đại dương" là yếu tố then chốt trong việc bảo vệ biển. Khoảng 80% lượng nhựa trong đại dương có thể là do "nhựa chảy ra đại dương" sau khi đi qua các con sông.

Ví dụ, vào năm 2011, Nhật Bản có sóng thần và động đất, và khoảng 5 triệu tấn nhựa trên đất liền trôi ra đại dương. Một số chìm xuống đáy, trong khi số khác trôi dạt vào bờ biển phía Tây nước Mỹ. Ngoài ra, nhựa cũng có thể bắt nguồn từ tàu hoặc dàn khoan ngoài khơi.

Cũng theo thống kê, mỗi năm có khoảng 8 triệu tấn nhựa trôi ra đại dương, cộng với khoảng 150 triệu tấn nhựa đã tồn tại trong môi trường biển. Theo thống kê, khoảng 335 triệu tấn nhựa được sản xuất trên toàn cầu mỗi năm, một nửa trong số đó là loại nhựa dùng một lần. Trong số các loại nhựa mà chúng ta sử dụng, chỉ 9% được tái chế.

Báo động đỏ rác thải nhựa gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới biển. Ảnh: TTXVN 

Trong 10 năm tới, việc sản xuất và tiêu thụ nhựa có thể tăng gấp đôi. Nếu không có biện pháp nào được thực hiện để giải quyết vấn đề nhựa, có thể sẽ có hơn 250 triệu tấn nhựa trong đại dương trong vòng 10 năm.

Rác thải nhựa đại dương hiện cũng là vấn đề môi trường nghiêm trọng và Việt Nam được coi là một trong những quốc gia có lượng chất thải nhựa cao thải ra biển hàng năm.

Đáng quan ngại, tại Việt Nam hiện nay rác thải nhựa mới được quy định chung trong nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế; chưa có cơ chế, chính sách cụ thể để quản lý, thu gom và xử lý trong tình trạng ô nhiễm, suy thoái môi trường biển do rác thải nhựa đại dương ngày càng nghiêm trọng.

Báo cáo môi trường hiện trạng môi trường biển của Bộ TN&MT cũng chỉ rõ, rác thải nhựa có số lượng và khối lượng vượt trội so với các loại rác khác. Đáng lo ngại, trong rác thải nhựa, loại chiếm tỷ trọng nhiều nhất về số lượng là phao xốp và dây thừng, lưới nhỏ, tổng số lượng các sản phẩm này chiếm đến 47% về số lượng rác và 46% về khối lượng rác thải. Tiếp đến là các loại rác thải nhựa dùng một lần như hộp xốp đựng thức ăn, túi ny lông.

Các bãi có mức ô nhiễm nhựa cao, phần lớn có vị trí hoặc nằm cạnh bến tàu, khu dân cư như bãi Cửa sông Cái, bãi Vĩnh Hòa – Nha Trang hoặc tập trung nhiều hoạt động du lịch như bãi Tây, bãi Hang Câu trên và Hang Câu dưới – Lý Sơn, Hòn Mun – Nha Trang. Đáng chú ý, tại khu vực đảo xa bờ, ít hoạt động du lịch như Côn Đảo, Hòn Cau, Bái Tử Long cũng bị ô nhiễm rác thải nhựa với số lượng và khối lượng rác cao hơn so với các bãi nằm trên đất liền (Ninh Thuận, Quảng Trị) hoặc đảo ven bờ (Cát Bà, Cù Lao Chàm).

Những ảnh hưởng nghiêm trọng từ rác thải nhựa ra đại dương

Nhựa trôi dạt ngoài biển đã ảnh hưởng đến 267 loài, trong đó có 86% loài rùa biển. Sinh vật biển có thể bị thương do nhựa cắt vào cơ thể và có thể bị ngạt hoặc mắc kẹt đến chết.

Một số loài, chẳng hạn như chim, cá, rùa biển và cá voi, có thể nhầm tưởng rằng nhựa là thức ăn. Khi sinh vật biển ăn phải nhựa, chúng sẽ chết đói vì dạ dày chứa đầy các mảnh nhựa. Chim biển kiếm ăn trên bề mặt đại dương và có thể dễ dàng nuốt các mảnh vụn nhựa trôi nổi.

Ngoài ra, các mảnh vụn nhựa sẽ thúc đẩy sự lây lan của các sinh vật xâm lấn và gây hại thêm cho hệ sinh thái biển. Các mảnh vụn nhựa không chỉ gây hại cho động vật hoang dã biển mà còn ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn của con người. Mọi người có thể tìm thấy vi nhựa trong các loại thực phẩm và đồ uống khác nhau, bao gồm nước, bia và muối.

Ô nhiễm nhựa không chỉ là vấn đề biển, mà còn là vấn đề khí hậu. Là một sản phẩm dầu mỏ, nhựa có mối liên hệ chặt chẽ với ngành công nghiệp nhiên liệu hóa thạch: việc khai thác và vận chuyển nhiên liệu hóa thạch giải phóng carbon vào khí quyển, làm trầm trọng thêm sự ấm lên của hành tinh.

Cùng với nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam đang quyết tâm đẩy lùi vấn nạn ô nhiễm rác thải nhựa nói chung và rác thải nhựa đại dương nói riêng. Tổng cục Thủy sản sẽ đồng hành cùng với ngư dân, tuyên truyền trên 28 tỉnh, thành ven biển, để chung tay giảm thiểu rác thải nhựa, chung tay vì một nghề cá phát triển bền vững.

Tái chế nhựa là bảo tồn cho tương lai

Nhựa và các sản phẩm từ nhựa được đánh giá là các sản phẩm tiện sử dụng và là xu hướng cách đây 10 năm. Tuy nhiên ngày càng nhiều người nhận ra rằng nhựa sau đó đào thải ra môi trường sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới thiên nhiên, hệ sinh thái và cả sức khỏe con người. Hãy tái chễ rác thải nhựa

RÁC THẢI NHỰA TÁC ĐỘNG XẤU ĐẾN MÔI TRƯỜNG

Trung bình, người Việt Nam hiện đang thải khoảng 2 triệu tấn nhựa mỗi năm và phải mất đến 450 năm để các chai nhựa này được phân huỷ hoàn toàn gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường. Một điều nguy hiểm khác là nhựa dễ dàng nóng chảy trong khoảng 80-800 độ C. Khi bị phân hủy, các chất độc trong nhựa đi vào đất, nguồn nước của chúng ta, từ đó xâm nhập vào các loại động vật, thực vật và tấn công cơ thể con người.

Các sản phẩm từ nhựa tự tiêu huỷ bằng cách phân ra thành các hạt nhỏ chứ không hề tiêu biến hết. Các hạt nhựa tiến vào nguồn nước, ngăn chặn khí oxy khiến cho các sinh vật sinh sống dưới nước không hô hấp được. Đã có rất nhiều trường hợp sinh vật biển chết vì chất thải nhựa của con người. Trong khi đó, con người hoàn toàn có thể giảm thiểu những nguy hại này bằng cách hạn chế thải rác nhựa và sử dụng nhựa tái chế. Hãy tìm hiểu 3 lợi ích từ việc tái chế nhựa trong đời sống ngay bên dưới nhé!

Tác hại của rác thải nhựa

Tại sao phải tái chế? - 3 Lợi ích từ việc sử dụng nhựa tái chế

1. Tái chế nhựa là gì? Tại sao phải tái chế?

Tái chế nhựa là quá trình thu thập phế liệu hoặc nhựa phế thải và tái chế vật liệu đó thành các vật dụng hữu ích. Việc tái chế là một phần nỗ lực của toàn thế giới vì phần lớn nhựa không phân hủy được nên để giảm lượng nhựa trong dòng chất thải, đặc biệt là khoảng 8 triệu tấn nhựa thải đi vào đại dương mỗi năm. Tuy nhiên, việc tái chế polyme nhựa thường khó khăn hơn vì mật độ tái sử dụng thấp và giá trị thấp.

Nếu không tái chế nhựa thì số lượng rác thải nhựa xả ra môi trường ngày càng nhiều nhưng không thể phân hủy và có thể bạn sẽ phải ở xung quanh đống rác toàn chai nhựa bẩn. Không những thế, còn làm hại đến canh tác hoặc cây trồng vì nhựa có thành phần độc hại rất cao nếu để trong thời gian lâu dài. Môi trường nước như sông, kênh, rạch... bị ô nhiễm nặng nề ảnh hưởng đến sinh hoạt và chăn nuôi... Ngoài ra, việc không tái chế nhựa còn gây ảnh hưởng đến sức khỏe và biến đổi khí hậu. Qua một số những lí do chính được nêu, Cleanipedia tin rằng, bạn đã tìm được đáp án tại sao phải tái chế nhựa của riêng bạn.

2. Lợi ích từ việc sử dụng nhựa tái chế

  • Lợi ích của việc sử dụng đồ nhựa 1:

Là một trong những phương pháp tiết kiệm nhiên liệu, năng lượng hơn nhiều so với sản xuất vật liệu nhựa mới nhờ giảm bớt được các hoạt động như khai thác, chế biến, vận chuyển…

  • Lợi ích của việc sử dụng đồ nhựa 2:Là phương pháp thân thiện với môi trường nhờ giảm lượng tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên cùng tiết kiệm năng lượng, từ đó lượng khí thải ra môi trường cũng giảm hẳn. Theo kết quả thống kê, việc sử dụng nhựa tái chế đã hỗ trợ giảm bớt 18 triệu tấn khí CO2 mỗi năm.

  • Lợi ích của việc sử dụng đồ nhựa 3:

Một vấn đề đau đầu hiện nay đang tồn tại là số lượng rác không kịp xử lý đang ngày một nhiều. Các bãi rác chồng chất gây ô nhiễm môi trường sống của chính chúng ta. Chưa kể việc xử lý rác bằng phương pháp chôn lấp vẫn tồn tại nguy hại cho thiên nhiên và sức khỏe con người. Việc tái chế nhựa giúp giảm thiểu số lượng rác thải sẽ phần nào giải quyết vấn đề này.

Sử dụng nhựa tái chế là một phương pháp hữu hiệu để tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường sống, giảm thiểu chất thải và khí thải độc hại ra môi trường, bảo vệ nguồn thực phẩm, các sinh vật trên trái đất và môi trường sinh thái. Với những lợi ích như vậy, mỗi người chúng ta hãy đề cao việc tái chế nhựa và lan tỏa thông điệp này ra cộng đồng. 

Ý nghĩa của việc tái chế chai nhựa

  1. Làm sạch không khí.

  2. Hạn chế ô nhiễm đất và nước.

  3. Nâng cao tinh thần bảo vệ môi trường sống.

  4. Giảm số lượng rác thải bẩn gây ô nhiễm.

  5. Kích thích sự sáng tạo khi tái chế.

Thứ Bảy, 23 tháng 10, 2021

Vải tái chế - Chất liệu mới cho một tương lai xanh

Vải tái chế – chất liệu mới cho một tương lai xanh. Củng cố môi trường sinh thái lành mạnh, an toàn và không độc hại.

Tình hình chung về thị trường vải tái chế

Có một sự thật không thể chối cãi về ngành dệt may. Chính là ngành công nghiệp này gây ảnh hưởng đến môi trường rất nghiêm trọng. Không chỉ tác động đến sinh thái trong giai đoạn sản xuất. Những thành phẩm dệt may cũng chiếm một vị trí lớn trong bãi rác của nhân loại. Những trào lưu fast fashion ngày càng được yêu thích. Việc sở hữu những kiểu dáng trang phục mới, bắt kịp xu hướng đã trở nên phổ biến. Chính điều đó đã làm cho ngành dệt may nói chung và ngành thời trang nói riêng phát triển cực kì mạnh mẽ. Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề lại là khi xu hướng thời trang đó không còn nổi bật; quần áo sẽ bị vứt bỏ. 


Chúng ta không thể tiếp tục làm hại môi trường như vậy được. Bởi vì môi trường bị ảnh hưởng cũng chính là chúng ta bị tác động. Các chuyên gia đã vô cùng đau đầu với vấn đề này. Bởi vì dù con người có ý thức “ăn chắc mặc bền” và không chạy đua theo xu hướng nữa. Lượng quần áo thải ra có thể giảm; nhưng chúng không thể tái chế, không thể phân hủy; tác động cũng không thay đổi bao nhiêu.

Chính vì thế, vải tái chế ra đời để tiết kiệm nguyên vật liệu sản xuất và phần nào bảo vệ môi trường sống của chúng ta được xanh, sạch, đẹp.

Vải tái chế là gì?

Tái chế là sử dụng những đồ vật, chất liệu hay bất kể những gì đã cũ có thể sử dụng để tạo ra một sản phẩm mới. Ví dụ như chai lọ tái chế, vỏ lon tái chế,…thì vải cũng vậy. Vải tái chế được kéo sợi từ plastic đã qua sử dụng. Sau khi được xử lý thông qua dây chuyền công nghệ hiện đại; chúng sẽ được tạo thành sợi polyester chất lượng cao để ứng dụng trong ngành may mặc. Cách tái chế này vừa giúp tái tạo nguồn rác thải nhựa vừa tạo ra chất liệu cho ngành may mặc. 


Chất vải này hiện này được rất nhiều thương hiệu thương trang sử dụng. Lý do là để cùng đồng hành với nhân loại để xây dựng một hệ sinh thái xanh.

Đặc điểm vải được tái chế

Thời trang “xanh” – xu hướng sử dụng vải tái chế đang ngày càng thu hút mọi người. Những chất liệu khác dù được ưa chuộng nhưng sau thời gian sử dụng; chúng có thể bị vứt bỏ. Riêng đối với sợi polyester từ nhựa, chúng vẫn có thể tiếp tục mang đi tái chế. Tạo thành một vòng lặp khép kín liên tục sử dụng và tái chế. 

Đặc điểm vải được tái chế

Loại vải này không hề khác về chức năng hay cấu trúc hóa học so với những chất liệu còn lại. Chúng có thể được dùng để may đa dạng các loại trang phục từ quần áo mùa hè cho đến trang phục mùa đông. 

Tính ứng dụng của vải được tái chế

Nhu cầu tiêu dùng hiện nay đang chuyển dịch dần dần sang những sản phẩm tái chế. Đây chính là sự lựa chọn tối ưu, mang lại tính bền vững và bảo vệ môi trường sống. 

Các thương hiệu thời trang hiện nay đã áp dụng vải tái chế vào các sản phẩm của mình như: Adidas, Nike, Puma,.. Chúng đang dần chiếm tỷ trọng lớn và ứng dụng rộng rãi trong ngành hàng may mặc. Không ngừng cố gắng giảm thiểu lượng chất thải rắn ra ngoài môi trường.

Tính ứng dụng của vải được sản xuất bằng phương pháp tái chế

Ngoài ra, một vài loại vải có nguồn gốc từ thiên nhiên hiện có tại Thomas Nguyen Fabric cũng được xem là góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ môi trường. Ví dụ như vải tre, vải sồi, vải lanh,.. những chất liệu này được sản xuất từ xenlulozơ của các loại cây. Vì thế, chúng có khả năng phân hủy rất nhanh sau khi thải ra môi trường. Những chất liệu này được gọi là vải sinh thái; không chỉ an toàn mà còn cực kì tốt cho người sử dụng.

Vải được tái chế được sản xuất như thế nào?

Không giống những nguyên liệu nguyên sinh khác, vải tái chế phải được xử lý theo những quy trình vô cùng nghiêm ngặt để đảm bảo an toàn toàn tuyệt đối. 

vải được tái chế được sản xuất như thế nào? 

Các quy trình sản xuất vải cơ bản diễn ra như sau. Đầu tiên, rác thải nhựa sau khi thu gom sẽ được phân loại theo màu sắc; mang đi làm lạnh và khử trùng. Tiếp đến, nhựa sẽ được mang đi nghiền nhỏ; và được nấu chảy thành hỗn hợp lỏng. Hỗn hợp polyester sau khi nấu chảy được đùn ép thành sợi polyester và cuối cùng được dùng để kéo sợi. 

Đối với loại vải đặc biệt này, không cần xử lý nhuộm sau dệt nhiều. Vì thế sẽ tiết kiệm nước và giảm thiểu ô nhiễm do chất nhuộm gây ra.

Tiêu chuẩn chất lượng vải được sản xuất bằng phương pháp tái chế

Tái chế từ nguồn rác thải nên tiêu chuẩn chất lượng của chất liệu này phải được đảm bảo. Vì sức khỏe của người sử dụng vẫn là sự ưu tiên hàng đầu. Những sợi vải đạt chất lượng phải đạt tiêu chuẩn GRS: Tiêu chuẩn tái chế toàn cầu (Global Recycle Standard). Tiêu chuẩn này kiểm định các giá trị: thành phần nguyên liệu đã qua xử lý; quy trình sản xuất nghiêm ngặt, khép kín; lượng hóa chất sử dụng; vòng đời sản phẩm cùng khả năng tái chế. 

Tiêu chuẩn chất lượng vải được tái chế

Vải tái chế nằm trong danh mục những sản phẩm thân thiện môi trường cần được mở rộng sử dụng. Chúng góp phần bảo vệ hệ sinh thái cũng chính là bảo vệ cuộc sống bền vững của con người.